Sau các phiên điều trần ngày 7-9/7, ngày 16/7 vừa qua là hạn chót cho nhà nước Việt Nam và các cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi thêm thông tin cho Văn phòng Đại diện Mậu dịch Hoa Kỳ (United States Trade Representative, viết tắt USTR) về tình trạng cưỡng bức lao động ở Việt Nam và ảnh hưởng tới mậu dịch với Hoa Kỳ.
Nhà nước Việt Nam, trước đó đã gửi báo cáo dài 108 trang, nay tọng thêm câu trả lời dài 190 trang.
Nhà nước nói gì về cưỡng bức lao động ở Việt Nam?
Trong bản báo cáo, Việt Nam thường trả lời kiểu “khôn lỏi” như “American Shrimp Processors Association không thiết lập được mối liên hệ đầy đủ về bằng chứng. Họ không chứng minh được là các nhà sản xuất ở Việt Nam nhập khẩu bột cá có từ lao động cưỡng bức, cũng không chứng minh được là bột cá đó được dùng để sản xuất tôm xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ.”
Họ trả lời tương tự về những vấn đề khác chúng tôi đưa ra, như cưỡng bức lao động trong quân đội.
“Một doanh nghiệp có liên hệ với quân đội không có nghĩa là lực lượng lao động sản xuất của doanh nghiệp có người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, càng không có cơ sở để khẳng định loại hình lao động này cấu thành hành vi cưỡng bức lao động.”
Và tương tự, về cưỡng bức lao động trong nhà tù:
“Chỉ riêng việc tù nhân làm việc theo quy định trong khuôn khổ chương trình cải tạo và phục hồi chức năng không cấu thành hành vi cưỡng bức lao động theo Công ước số 29. Vì vậy lời kể thiếu cơ sở xác thực của vài cá nhân không thể chứng minh là có chính sách mang tính hệ thống về cưỡng bức lao động trong trại giam, chưa nói tới sự liên quan giữa những hành vi cáo buộc và những mặt hàng cụ thể được Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ.”
Trước đó, với một số cáo buộc khác, Việt Nam đã lấp liếm, nói American Coalition for Fair Trade in Seafood không đưa ra bằng chứng về cưỡng bức lao động liên quan tới một “sản phẩm, doanh nghiệp, chuỗi cung ứng, hay lô hàng cụ thể nào.”
Đây là một kiểu bắt chẹt. Tuy nhiên, như đã viết trong chính ý kiến đóng góp bổ sung của BPSOS, chúng tôi có thể không biết các sản phẩm tạo ra trong nhà tù sau đó đi đâu, nhưng chúng tôi đã gửi thêm thông tin và lời kể của vài nhân chứng khác nhau cho thấy cưỡng bức lao động trong nhà tù là thực tế. Và không chỉ BPSOS, một số cá nhân và tổ chức khác cũng gửi thêm thông tin về cưỡng bức lao động ở Việt Nam.
Nhà nước nói gì về cưỡng bức lao động trong chương trình xuất khẩu lao động?
Như đã viết trước đây, một vấn đề khác chúng tôi đã vận động nhiều năm và cũng nêu ra với USTR là tình trạng bóc lột trong chương trình xuất khẩu lao động của nhà nước.

Dấu vết đánh đập trên người một trong những nữ lao động người Việt ở trung tâm SAKAN, Riyadh, Ả Rập Xê Út.
Chính quyền Việt Nam nói đó là “di cư lao động hợp pháp, tự nguyện”, có “hợp đồng lao động bằng văn bản”. Tuy nhiên, chúng tôi chưa bao giờ nói công nhân bị cưỡng ép ra nước ngoài lao động. Chúng tôi nói nhiều công nhân bị lừa về điều kiện làm việc và điều khoản trong hợp đồng, bị đánh đập, hành hạ, bỏ đói, bóc lột sức lao động, thậm chí bị cưỡng hiếp, nhưng bị trói tay bởi công ty môi giới, chẳng thể hồi hương; cầu cứu Bộ Thương binh, Lao động, và Xã hội thì bị làm ngơ; gọi sang Sứ quán thì bị bỏ mặc; tới khi hồi hương, đi kiện thì chờ mòn mỏi. Thậm chí, chúng tôi đã truy ra hai quan chức Việt Nam dan díu vào buôn người ở Ả Rập Xê Út; dưới áp lực quốc tế, Việt Nam điều tra nhưng xét họ vô can.
Nhà nước nói “Người lao động có quyền nộp đơn khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, và đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bị ngược đãi, cưỡng ép làm việc trái ý muốn, bị quấy rối tình dục, hoặc bị đe dọa trực tiếp tới tính mạng hay sức khỏe. […] Theo đó, khi bên tuyển dụng hoặc người sử dụng lao động có hành vi cưỡng ép, lừa gạt, thu phí trái pháp luật hoặc bóc lột, những hành vi cấu thành hành vi vi phạm luật pháp Việt Nam—chứ không phải là bằng chứng cho thấy bản thân khung pháp lý dùng để áp đặt tình trạng cưỡng bức lao động.”
Vậy khi nào nhà nước Việt Nam sẽ giải quyết các đơn khiếu nại của chị Huỳnh Thị Gấm, bị bóc lột, đánh đập, đẩy từ chủ này sang chủ khác—qua tổng cộng sáu chủ khác nhau—trong chương trình xuất khẩu lao động sang Ả Rập Xê Út năm 2019 – 2021?
Thế còn cái chết bi thảm của thiếu nữ 17 tuổi H Xuân Siu năm 2021? Công ty tuyển dụng làm giả giấy tờ để đưa H Xuân Siu sang Ả Rập Xê Út làm việc khi mới 15 tuổi, vẫn đang hoạt động phây phây.
Nếu Việt Nam thực sự cấm cưỡng bức lao động như trong luật, bao giờ họ sẽ điều tra và xử lý hàng loạt những trường hợp đó?
Vì sao BPSOS vận động về vấn đề này?
Trước áp lực thuế quan từ Hoa Kỳ, Việt Nam gần đây đang bố ráp, bắt hàng loạt người và tịch thu sản phẩm để chứng minh mình đang giải quyết tình trạng vi phạm sản phẩm trí tuệ tràn lan.
Về vấn đề cưỡng bức lao động, mới đây, ngày 10/7, tòa án Việt Nam phạt tù nhóm người, lên tới 21 năm tù, vì chuyên lừa người vào các trung tâm lừa đảo ở Campuchia. BPSOS cùng tổ chức Người Thượng vì Công lý đã phối hợp giải cứu trên 40 nạn nhân từ các ổ lừa đảo như vậy và các nạn nhân sau khi hồi hương đã tố cáo thủ phạm nhưng công an hoàn toàn không điều tra. Những trường hợp khiếu nại về tình trạng bóc lột trong chương trình xuất khẩu lao động lại càng không được xử lý. Vụ xử án tù kể trên có vẻ chỉ để che mắt USTR.
BPSOS đang sử dụng vụ điều tra của USTR để gây áp lực khiến Việt Nam phải giải quyết tình trạng cưỡng bức lao động trong quân đội, trong nhà tù, trong chương trình xuất khẩu lao động của nhà nước; khiến Việt Nam hỗ trợ nạn nhân, xử lý khiếu nại, điều tra và trừng phạt những kẻ bóc lột và buôn người.
Liệu Hoa Kỳ có tăng thuế quan với Việt Nam không?
Là quốc gia đang bị USTR vừa bị điều tra về cưỡng bức lao động, vừa bị xem xét về tình trạng luật pháp lỏng lẻo về tài sản trí tuệ, là quốc gia duy nhất bị liệt vào danh sách Quốc gia Ngoại quốc Ưu tiên, lại bị hàng loạt các “ông lớn” (như US Chamber of Commerce, Motion Picture Association, Recording Industry Association of America, Council for Innovation Promotion, Business Software Alliance, US Council for International Business, National Council of Textile Organization…) tố cáo, Việt Nam chắc chắn sẽ bị đánh thuế quan. Câu hỏi chỉ là, bao nhiêu phần trăm?