Hải Di Nguyễn
Một điều tôi nghe khá nhiều trong vài năm gần đây là nỗi thất vọng về các nước dân chủ phương Tây, vô vọng về tình hình Việt Nam, chán chường với thế giới nói chung. Người ở Mỹ than thở về ICE, về chiến tranh, về vấn đề chia rẽ, về chuyện Hoa Kỳ thay đổi hình ảnh trên thế giới… Người ở châu Âu thở than về kinh tế, về cực hữu, về cực tả, về tự do ngôn luận…
Một số người thậm chí còn nói, làm sao có thể tiếp tục lên tiếng vận động cho Việt Nam khi chính các nước dân chủ cũng bỏ mặc tự do nhân quyền, cũng chà đạp lên luật quốc tế?
Làm thế nào để giữ lửa? Giữ hy vọng?
Hy vọng về tình hình thế giới
Sống ở Anh, tôi không phải là người duy nhất lo ngại về khuynh hướng hiện nay ở Anh Quốc, về Online Safety Act, về vấn đề tự do ngôn luận và tự do tôn giáo hay niềm tin (bao gồm quyền bỏ đạo, cải đạo, không theo đạo), và nhiều thứ khác. Đôi khi không thể không nghĩ, cả thế giới dường như đều tệ đi.
Tại Praha, Cộng hòa Séc tháng 11/2025, tôi có dịp nói chuyện với ông Ed Brown thuộc tổ chức Na Uy Stefanus Alliance. Theo ông, xã hội có lúc lên, có lúc xuống, có lúc tiến, có lúc lùi, và có thể nói cả thế giới hiện nay đang trong giai đoạn xuống, nhưng nếu nhích ra xa và nhìn toàn chiều dài lịch sử, chúng ta có thể thấy khuynh hướng chung của lịch sử là cởi mở hơn, tự do hơn, tiến bộ hơn. Giai đoạn khủng hoảng sẽ qua. Cái cần làm vẫn phải tiếp tục.
Riêng ở Anh, vì vẫn là nước dân chủ, có tam quyền phân lập, có tự do ngôn luận, một số cái đi quá xa đã được kéo lại, một vài cái cực đoan đã có phần nào điều chỉnh.
Hy vọng về tình hình Việt Nam
Trong một số khía cạnh, chúng ta có thể thấy tình hình ở Việt Nam tệ đi: riêng trong lĩnh vực báo chí, nhà cầm quyền đã nắm mọi báo đài trong nước; BBC News Tiếng Việt không còn tòa soạn London; RFA lẫn VOA Tiếng Việt đều đóng cửa; các tờ báo tiếng Việt độc lập dần thoi thóp… Trong một số khía cạnh, người ta có thể nói Việt Nam hiện nay vẫn không bằng chế độ Việt Nam Cộng hòa trước đây.
Nhưng nhìn chung, so với giai đoạn ngay sau 1975, Việt Nam hiện nay đã có tiến bộ, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế. Nhà cầm quyền vẫn tuyên truyền và kiểm duyệt truyền thông, nhưng ít nhất người dân có internet. Nhà cầm quyền vẫn bắt bớ nhà báo và người bất đồng chính kiến, nhưng ít nhất điều kiện tù đày đỡ hơn trước đây. Nhà cầm quyền vẫn đàn áp tôn giáo, nhưng ít nhất họ không cấm hoàn toàn, để che mắt thế giới.
Các hoạt động nhân quyền có thay đổi gì không?
BPSOS và các cộng đồng tôn giáo và tổ chức thân hữu đã viết vài trăm bản báo cáo gửi LHQ, Hoa Kỳ… về các vi phạm tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam; và cũng đã đóng góp cho bản báo cáo của Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) vạch trần các tổ chức tôn giáo bị nhà nước điều khiển (như Chi phái Cao Đài 1997, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hay Ủy ban Đoàn kết Công giáo).
Bà Loan Nguyễn là người Công giáo, thuộc tổ chức Đức tin & Công lý tại Việt Nam. Bà vận động ở Quốc hội Mỹ, Hội nghị Thượng đỉnh về Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRF Summit), LHQ, và các diễn đàn khác về Công giáo ở Việt Nam.
Bà nói “Về cá nhân, từ hồi sinh hoạt với nhóm, tôi hiểu rõ hơn vấn đề và đó là một cách để tìm ra thái độ hành động… Khi vận động với nhóm được sự chia sẻ, cùng nhau tìm hiểu và tìm cách tranh đấu thì có nhiều năng lực hơn.
“Đối với cộng đồng Công giáo, nhiều sự kiện bất công, đàn áp được trao đổi cho nhiều người hơn. Những tài liệu, bài viết được phổ biến rộng hơn. Thí dụ một báo cáo quốc tế được chuyển về cho nhiều người hơn. Sự mở rộng tin tức và học hỏi thay đổi cái nhìn. Cho cộng đồng Công giáo thấy họ không bị bỏ rơi. Như trường hợp nhiều nước độc tài trên thế giới. Có dịp giúp đỡ thật sự về tâm linh, trí tuệ và vật chất. Có sự chia sẻ tin tức từ Việt Nam ra nước ngoài.”

Bà Thanh Thứ (thứ 3 từ trái qua) và bà Loan Nguyễn (thứ 4 từ trái qua) tại Hội nghị Thượng đỉnh về Tự do Tôn giáo Quốc tế 2026.
Bà Thanh Thứ, thuộc Nhóm kết nghĩa Tinh thần Đoàn kết Phật giáo, cho biết “Trong hơn 5 năm qua, Nhóm kết nghĩa chúng tôi đã kết nối một số Tăng sĩ và Phật tử đang bị bách hại nơi quê nhà, để thành lập một Nhóm lõi hầu thu thập tin tức để báo cáo với quốc tế những vụ việc bách hại xảy ra. Mặt khác nhóm chúng tôi kết nối Nhóm lõi với những quan chức ngoại quốc chuyên về tự do tôn giáo và nhân quyền, tại các Tòa Tổng Lãnh sự tại Việt Nam để họ có thể được can thiệp trực tiếp từ các tòa Tổng Lãnh sự Quốc tế. Một thí dụ điển hình là vào năm 2021 và 2022, Chùa Thiên Quang do TT Thích Thiên Thuận trụ trì tại Thác Hòa Bình, Huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nhận được lệnh cưỡng chế và san bằng toàn bộ kiến trúc Chùa Thiên Quang xây dựng từ năm 2000. Nhưng nhờ sự kết nối với Quốc tế nên Chùa đã nhận được sự can thiệp kịp thời của các Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ và Cộng hòa Liên bang Đức, do đó quyết định cưỡng chế đã dừng lại đến ngày hôm nay.
“Chùa Sơn Linh tại Huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum cũng nhận được sự giúp đỡ của Nhóm kết nghĩa ngay sau khi nhóm thành lập năm 2020 với những buổi gặp gỡ tại Tòa tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Saigon. Đặc biệt chính Ông Ủy viên chính trị Tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ đã đích thân đến Kontum thăm hỏi tình hình sau khi Chùa Sơn Linh bị san bằng lần đầu tiên năm 2019. Thầy Nhật Phước, đệ tử TT Thích Thiên Thuận tại chùa Thiên Quang, đến tiếp quản năm 2021. Ngày 13 tháng 12 năm 2022, Công an và nhiều ban ngành của chính quyền gồm khoảng 40 người lại mang xe ủi đất đến để cưỡng chế Chùa Sơn Linh lần thứ hai. Điều đó chứng tỏ sự bách hại về tự do tôn giáo đối với những Tăng sĩ và Chùa, tại những vùng xa vùng sâu rất khốc liệt tại Việt Nam, nếu vị trụ trì quyết định không theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam do nhà nước đặt ra năm 1981 để che mắt thế giới là Việt Nam có TDTG. Với chính sách tiêu diệt tôn giáo tinh vi, nhà nước đã áp lực lên gia đình thân nhân Thầy Nhật Phước khiến Thầy bị khống chế và phải bỏ cuộc, quay trở lại Chùa Thiên Quang, để lại Chùa Sơn Linh cho người đệ tử thực hiện những sinh hoạt Phật Giáo rất khiêm nhường.
“Do đó, sự tranh đấu chỉ có thể thành công nếu các vị chức sắc trụ tri kiên nhẫn, kiên cường theo đuổi đến cùng, tiếp tay với Nhóm kết nghĩa để có sự quan tâm và can thiệp của quốc tế.
“Nhóm kết nghĩa hiện đã làm báo cáo đến các cơ quan Quốc tế như LHQ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF), những trường hợp Quý Thầy thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không đuợc cấp hộ chiếu hoặc bị cấm xuất cảnh, trong khi các vị chức sắc thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam của nhà nước được xuất cảnh tự do. Qua những báo cáo này, và trước áp lực quốc tế, HT Thích Thiện Minh tại Thiền viện Lộc Uyển, Hóc Môn thuộc TP Hồ Chí Minh đã được xuất cảnh, mặc dù Ngài là Nhiếp Sự Trưởng Từ Thiện, Viện Tăng thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trong việc cứu trợ nạn nhân động đất tại Myanmar.”
Ông Minh Đạo, tín đồ Cao Đài sinh hoạt tại Thánh thất và Điện thờ Phật Mẫu Mountain View, Hoa Kỳ, nói “Chúng tôi đã đi đến gặp văn phòng USCIRF, Bộ Ngoại giao, Quốc hội để trình bày về tình trạng tín đồ Cao Đài bị đàn áp tự do tôn giáo, cưỡng chiếm, cướp đoạt từ Tòa thánh, Thánh thất, Điện thờ và các cơ sở của Đạo Cao Đài, luôn cả danh xưng Đại-Đạo Tam- Kỳ Phổ-Độ. Đã thành công việc khiếu nại về danh xưng của đạo đã bị ông Trần Quang Cảnh là đại diện của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh (còn gọi là Chi Phái 1997) do ông Nguyễn Thành Tám lãnh đạo tiếm dụng làm thương hiệu riêng. USCIRF đã nhận ra rõ là chi phái Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh ), tức Chi Phái 1997, khác với Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ là đạo Cao Đài chơn truyền. Tín đồ Cao Đài được hành đạo tự do hơn về mặt hình thức, những tình trạng bị Chi phái 1997, côn đồ, công an quấy phá khi thượng tượng, đám tang, hay hành lễ giảm đi đáng kể. Những thành công này là do phần lớn sự đóng góp và giúp đỡ của cô chú anh chị em tổ chức BPSOS, một số cô chú trong cộng đồng, và sự kết hợp của tín đồ trong và ngoài nước.”
Đúng là nhà nước Việt Nam vẫn đàn áp tôn giáo, nhưng các việc gửi báo cáo và vận động vẫn có một số tác động cụ thể, không chỉ là chuyện đấu tranh “trên mây”.
Ngoài những vấn đề tôn giáo, bà Thanh Thứ cho biết Nhóm kết nghĩa còn thành lập Liên minh Đa tôn giáo – Phòng chống buôn người, đã giúp giải cứu và hỗ trợ nhiều nạn nhân buôn người, chẳng hạn như một số nạn nhân bị hành hạ bóc lột trong các chương trình xuất khẩu lao động.
Hy vọng
Bà Thanh Thứ nói “Tranh đấu cho tự do tôn giáo và nhân quyền không khác gì chúng ta đang bơi ngược dòng nước. Do đó chỉ cần thiếu kiên nhẫn, thiếu tự tin, chưa nhìn thấy kết quả rất dễ sinh ra nản lòng và bỏ cuộc. Nhà tranh đấu cần phải có tình thương vô giá đối với tha nhân, những nạn nhân bị bách hại như chính những người ruột thịt trong gia đình mình, cần phải có thời gian và phải biết lắng nghe lời than thở của nạn nhân, biết khuyên giải và trấn an, vì con đường tranh đấu còn dài và đỏi hỏi một sự hy sinh vô giá. Nhà tranh đấu chỉ biết dấn thân, không than thở, nhưng phần thưởng tinh thần khi cứu được người , đem lại niềm vui cho người, thì quả là vô giá. Đó là công đức vô lượng. Đó là tích đức mỗi ngày cho chính bản thân mình.”
Hoặc, như TS. Nguyễn Đình Thắng vẫn nhắc nhở trong khóa học phát huy năng lực cho các cộng đồng yếu thế nên dễ bị đàn áp, do BPSOS tổ chức từ một thập niên qua: “Yếu tố quan trọng nhất để thay đổi hoàn cảnh là chính mình. Ngày càng nhiều nhóm kết nghĩa ở ngoài và nhiều cộng đồng ở trong nước đã chủ động học hỏi, tự trau dồi, trao đổi kinh nghiệm và kỹ năng với nhau để cùng tăng năng lực. Đó là sự thay đổi tích cực mà chính mình có thể chủ động tạo ra nhằm từng bước thay đổi xã hội bất luận trong tình thế nào.”