- Các việc cần làm trong 18 tháng tới
Ts. Nguyễn Đình Thắng
Ngày 22 tháng 6, 2019
Mỗi đời Hành Pháp và mỗi khoá Quốc Hội của Hoa Kỳ lại có những ưu tiên khác nhau về chính sách đối ngoại, trong đó có chính sách về nhân quyền. Những ưu tiên này một phần không nhỏ là do ảnh hưởng của các khối cử tri đã ủng hộ cho các ứng cử viên đắc cử vào Toà Bạch Ốc hoặc Quốc Hội. Chúng ta phải biết và hiểu ưu tiên về nhân quyền trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở từng thời kỳ thì mới nhận ra được các cơ hội để xúc tác cho sự thay đổi cho Việt Nam.
Ưu tiên về nhân quyền của Hành Pháp Trump
Có những người mang định kiến là Tổng Thống Trump không quan tâm đến nhân quyền, cho nên chẳng có gì để trông chờ nơi chính sách của Hoa Kỳ về nhân quyền trong 4 năm nhiệm kỳ của ông ấy. Đó là cách nhìn đơn giản hoá đến mức thô thiển. Trong một thể chế dân chủ như Hoa Kỳ, chính sách quốc gia về đối ngoại không chỉ do Tổng Thống quyết định mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Ở Hoa Kỳ, các yếu tố chi phối chủ yếu gồm có: khối cử tri hậu thuẫn, thành phần nội các, và các vị dân cử cùng đảng trong Quốc Hội. Các yếu tố này đã đẩy tự do tôn giáo thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách về nhân quyền của Hành Pháp Trump.
Khối cử tri hậu thuẫn mạnh mẽ nhất cho ứng cử viên Donald Trump là các cộng đồng Thiên Chúa Giáo, trong đó có những nhóm quan tâm đến quyền tự do tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2010 một số các nhóm này bắt đầu tập hợp lại để cùng nhiều tổ chức nhân quyền Hoa Kỳ và quốc tế vận động đưa tự do tôn giáo vào chính sách quốc gia về đối ngoại. Sau nhiều năm hoạt động, tập hợp này đã phát triển đủ để ảnh hưởng và đóng góp với chính phủ Hoa Kỳ để thúc đẩy tự do tôn giáo trên toàn thế giới. Hành Pháp Trump ngay từ đầu đã hợp tác chặt chẽ với mạng lưới các tổ chức này, được mệnh danh Bàn Tròn Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế.
Thành phần nội các của Hành Pháp Trump có những người thực sự quan tâm đến tự do tôn giáo, mà tiêu biểu nhất là Phó Tổng Thống Mike Pence, Ngoại Trưởng Mike Pompeo và Đại Sứ Lưu Động về Tự Do Tôn Giáo Sam Brownback. Cả 3 nhân vật này trước đây đều là hạ nghị sĩ hoặc thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Khi còn ở Quốc Hội, họ thuộc khối dân cử đặc biệt quan tâm đến tự do tôn giáo — đặc biệt, Đại Sứ Brownback là đồng tác giả của Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế được quốc hội thông qua năm 1998. Cả 3 giới chức cao cấp này đã góp phần nâng tự do tôn giáo lên hàng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Hành Pháp Trump.
Giới chức đại diện các chính quyền tham gia Hội Nghị Cấp Bộ Trưởng Phát Huy Tự Do Tôn Giáo (ảnh BNG/HK)