- Nạn nhân và thân nhân nhiều lần kêu cứu với giới chức Việt Nam nhưng không được hồi đáp

25 tháng 10 năm 2021

23 tháng 10 năm 2021
Thông Báo
BPSOS, ngày 23 tháng 10, 2021
Hiện nay có khoảng 75 người Việt đang trong hoặc đã xong tiến trình phỏng vấn định cư Hoa Kỳ và Canada. Để giúp họ chuẩn bị cho sự thay đổi lớn trong cuộc sống, chúng tôi kêu gọi đồng hương ở 2 quốc gia này tình nguyện bỏ ra 1 tiếng mỗi tuần để dạy Anh văn và chia sẻ kinh nghiệm về đời sống ở Hoa Kỳ hoặc Canada.
Đây là cách để những người đi trước dìu dắt những đồng bào kém may mắn đi sau. Hiện nay có khoảng 800 người Việt ở Thái Lan đã được công nhận tư cách tị nạn. Phần lớn những người này đã ở Thái Lan từ 3 năm trở lên, có người trên 10 năm. Với chính sách tăng định cư tị nạn của Hoa Kỳ và của Canada trong 3 năm tới, số đồng bào có triển vọng định cư tị nạn sẽ tăng lên đáng kể so với những năm trước đây.

Bức tranh của một nghệ sĩ tị nạn gốc Phi Châu vẽ tặng văn phòng BPSOS ở Thái Lan
18 tháng 10 năm 2021
Mạch Sống, ngày 17 tháng 10, 2021
Sau gần 3 năm lận đận, cô Mùa Thị La, 23 tuổi, dân tộc Hmong, cuối cùng đã được cảnh sát Ả Râp bảo vệ và đưa vào khu tạm trú ở Thành Phố Jeddah, gần 1000 km về hướng Đông của Thủ Đô Riyadh, Ả Rập Xê Út.
Thứ Sáu 15 tháng 10, cô La được chủ đưa 200 Rials (tương đương 53 USD) trước khi bị đuổi ra khỏi nhà. Với ít tiền trong tay, cô lấy taxi tìm đến các cơ quan xã hội trong thành phố để cầu cứu nhưng tất cả đều đóng cửa nghỉ lễ. Môt nhân sự của BPSOS ở Thái Lan hướng dẫn tài xế taxi chở cô đến đồn cảnh sát gần nhất, nhưng sau đó đã hoàn toàn mất liên lạc với cô La.
“Cô La lúc ấy đã bị khủng hoảng tinh thần và gần như mất khả năng suy nghĩ,” nhân sự của BPSOS ở Thái Lan cho biết. “Trước khi mất liên lạc, cô La đã gọi trên 60 cú điện thoại để cầu cứu trong tình trạng hoảng hốt tột độ.”
Thông qua một tổ chức quốc tế, BPSOS báo động đến chính quyền Ả Rập Xê Út để truy tìm cô La. Cảnh sát quốc gia lập tức gửi thông cáo khẩn đến tất cả các đồn cảnh sát ở thành phố Jeddah.

Hình 1. Cô Mùa Thị La sau một trận đòn chí tử
15 tháng 10 năm 2021
Buôn người dưới danh nghĩa xuất khẩu lao động (tiếp theo)
Mạch Sống, ngày 14 tháng 10, 2021
PHẦN 2: TỘI MUA BÁN NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), tội mua bán người gồm hai điều luật quy định khác nhau về độ tuổi của nạn nhân. Nếu nạn nhân từ đủ 16 tuổi trở lên, người phạm tội sẽ bị xử lý theo Điều 150 BLHS. Nếu nạn nhân dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị xử lý theo Điều 151 BLHS.
Theo hướng dẫn tại Nghị Quyết 02/2019/NQ-HĐTP, người sử dụng thủ đoạn đưa người lao động từ đủ 16 tuổi trở lên đi nước ngoài bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người theo quy định tại Điều 150 của BLHS nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
– Biết người lao động ra nước ngoài sẽ bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác nhưng vẫn lừa gạt hoặc ép buộc người lao động và chuyển giao họ cho phía nước ngoài để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác;
– Chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài bán người lao động cho người khác;
– Tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp người lao động để chuyển giao cho phía nước ngoài bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.


Đối với người lao động dưới 16 tuổi, yếu tố lừa gạt hoặc ép buộc không phải là điều kiện bắt buộc của tội phạm. Tội mua bán người dưới 16 tuổi được thực hiện bằng các hành vi: chuyển giao, tiếp nhận, tuyển mộ, vận chuyển hoặc chứa chấp. Mục đích của hành vi là: nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
Người sử dụng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người. Ví dụ: sau khi nhận tiền của người lao động, người môi giới đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người môi giới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Người tổ chức, cưỡng ép người khác ở lại nước ngoài không nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc không vì mục đích vô nhân đạo khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nhưng tùy từng trường hợp cụ thể mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép hay tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.
Khi một người phát hiện cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội mua bán người, người này có quyền tố giác tội phạm tại cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát nhằm kịp thời giải cứu nạn nhân và xử lý những kẻ vi phạm. Với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, việc xử lý những kẻ phạm tội không thể giải quyết triệt để vấn nạn buôn người nếu vẫn còn những người lựa chọn trở thành nạn nhân của tội phạm.
14 tháng 10 năm 2021
Mạch Sống, ngày 14 tháng 10, 2021
PHẦN 1: CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
Những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu lao động ngày càng lộ rõ bản chất của các mẫu quảng cáo đổi đời với chi phí thấp. Vì tin tưởng vào những lời dụ dỗ mà nhiều người đã trở thành nạn nhân của tình trạng lao động cưỡng bức và nạn buôn người, thậm chí có người đã không thể sống sót để trở về. Do đó, nhận biết được các điều kiện để đi làm việc ở nước ngoài và dấu hiệu của tội buôn người là một trong các giải pháp để phòng tránh việc trở thành nạn nhân của nạn buôn người.
Xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật Việt Nam có các quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi làm việc ở nước ngoài như: công ty xuất khẩu lao động phải được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; người lao động phải hoàn toàn tự nguyện và có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Nếu giữa công ty xuất khẩu lao động và người lao động không đạt được các điều kiện tối thiểu trên thì việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là trái pháp luật và có dấu hiệu của tội buôn người.
