Hai nạn nhân buôn người Việt Nam nộp báo cáo cho USTR

2 tháng 7 năm 2026

LTS: Trước hạn chót ngày 2/7, hàng loạt cá nhân và tổ chức đã gửi thông tin và ý kiến góp ý tới Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (USTR) về Việt Nam. Chúng tôi xin đăng lại bài viết sau về báo cáo của hai nạn nhân buôn người.

Nguồn: BPSOS – Đề Án Dân Quyền Việt Nam.

Cô H Thai Ayun, một trong hai người phụ nữ Việt Nam vừa gửi báo cáo tới USTR về tình trạng cưỡng bức lao động.

Ngày 29 tháng 6 vừa qua, hai phụ nữ Việt Nam đã nộp một số báo cáo cho Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (US Trade Representative – USTR).

Hai phụ nữ Việt Nam này là đại diện cho hàng ngàn nạn nhân của nạn buôn người xuyên quốc gia trong những năm qua. Đây là một tệ nạn hình sự do chính các quan chức cấp cao của chính quyền Việt Nam thực hiện núp bóng dưới tên gọi “xuất khẩu lao động”. 

Người thứ nhất là cô H Thai Ayun. Cô là một phụ nữ Ede ở Làng Tara Pour, Xã Hòa Đông, Tỉnh Đắk Lắk. Vào năm 2018, cô bị một đường dây buôn người của quan chức Việt Nam lừa gạt bán sang Ả Rập Xê Út để làm lao động nô lệ khổ sai. Tại Ả Rập Xê Út, cô đã liên lạc được với BPSOS để kịp thời lên tiếng báo động về tình trạng buôn người từ Việt Nam qua Ả Rập Xê Út. Ngay lập tức, cô đã trở thành mục tiêu truy tìm của chính quyền Việt Nam bởi họ ý thức được những hậu quả nếu các thông tin vi phạm nhân quyền liên quan trực tiếp tới các quan chức cao cấp này bị phanh phui trước dư luận quốc tế. Ngay lập tức BPSOS và một số tổ chức bảo vệ nhân quyền đã kích hoạt chương trình bảo vệ nạn nhân để kịp thời đưa cô về Thái Lan lánh nạn. Sau đó, cô đã được Liên Hiệp Quốc và chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận quy chế tị nạn khẩn cấp. Hiện nay cô đang định cư tại Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục lên tiếng đấu tranh bảo vệ phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của nạn buôn người quốc tế.

Người thứ nhì là một phụ nữ còn đang ở trong nước nên chúng tôi xin tạm giấu thông tin về cô. Hoàn cảnh của cô cũng tương tự như cô H Thai Ayun. Cô cũng bị một đường dây buôn người của quan chức Việt Nam lừa gạt bán sang Ả Rập Xê Út để làm lao động nô lệ khổ sai.

Những bản báo cáo của hai phụ nữ Việt Nam nộp cho USTR trong bối cảnh cơ quan này đã và đang tiến hành các cuộc điều tra về vấn đề gian lận để cạnh tranh mậu dịch với hàng hoá của Hoa Kỳ. Một trong những khía cạnh của vấn đề đó là tình trạng cưỡng bức lao động ở trong nước hoặc lừa gạt buôn bán nạn nhân đưa ra nước ngoài làm việc được đánh giá là nô lệ kiểu mới.

USTR cho biết, họ khá bất ngờ và đang dành sự quan tâm tới vấn đề được nêu trong các báo cáo của hai nạn nhân này. Rất có thể trong tháng 7 này, USTR sẽ mời hai người tới điều trần để làm rõ thêm các ngóc ngách thủ đoạn tinh vi mà chính quyền Việt Nam đã sử dụng và gây ra cho hàng hoá của Hoa Kỳ giảm sức cạnh tranh trên thị trường.

Trong một diễn biến khác, trước đó, BPSOS cũng đã nộp một số báo cáo cho USTR để chỉ ra tình trạng doanh nghiệp thao túng nhà nước ở Việt Nam (chiếm đoạt nhà nước). Tình trạng này về cơ bản bao gồm doanh nghiệp chiếm đất của người dân để lập nhà máy công xưởng ở những nơi có điều kiện giao thông tốt rồi tiếp tục trưng dụng lao động với giá rẻ mạt. Chính quyền đứng bảo kê và sẵn sàng bỏ tù những ai chống đối những hành vi vi phạm pháp luật này của doanh nghiệp và chính quyền. Từ các báo cáo này USTR đã mời Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc BPSOS tham gia một số buổi điều trần và một số hoạt động khác của USTR.

USTR không phải là một cơ quan chuyên trách về nhân quyền của Hoa Kỳ. USTR chỉ là một cơ quan thuộc hành pháp Hoa Kỳ chuyên trách về vấn đề cạnh tranh thương mại giữa các nước với Hoa Kỳ. USTR thực hiện chức năng điều tra và trừng phạt các quốc gia cố tình hành xử bất công trong mậu dịch, gây thiệt hại cho công dân, doanh nghiệp hoặc nền kinh tế nói chung của Hoa Kỳ theo Luật Mậu Dịch Công Bằng năm 1974 của Hoa Kỳ (Fair Trade Act of 1974). Chỉ ra điều này để cho thấy rằng trong sân chơi quốc tế có rất nhiều công cụ và thiết chế tưởng như không dính dáng gì đến nhân quyền như USTR, nhưng nếu biết gắn và lồng khung vấn đề vào với nhau thì chúng ta đều có thể tạo nên những cơ hội cho mục tiêu đấu tranh chính nghĩa của mình. Điều này có nghĩa, khi đã xác định cho mình con đường đấu tranh nhân quyền thì mỗi tổ chức hoặc mỗi cá nhân cần chủ động sáng tạo nhiều chiến thuật hành động thay vì chỉ đi theo một lối mòn có sẵn vốn chưa bao giờ là bằng phẳng.