- Kết nhân quyền của người Việt với quyền lợi mậu dịch của Hoa Kỳ
Ngày 8 tháng 7, 2026
Tại buổi điều trần ngày hôm nay của Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (USTR), Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc kiêm Chủ Tịch BPSOS, đề nghị chính phủ Hoa Kỳ áp mức thuế quan phụ trội 35% – 50% lên một số mặt hàng trọng yếu nhập cảng từ Việt Nam vì quốc gia này sử dụng lao động cưỡng bức tràn lan và nghiêm trọng, gây thiệt hại mậu dịch cho Hoa Kỳ.
Việt Nam là một trong 60 quốc gia đang bị đặt trong tầm ngắm về nạn lao động cưỡng bức và đang phải đối mặt với mức thuế quan phụ trội là 12.5%.
Trả lời câu hỏi của ủy ban điều tra là tại sao đề nghị mức thuế quan cao như vậy, Ts. Thắng cho biết Việt Nam không chỉ sử dụng lao động cưỡng bức nhằm giảm giá thành của các sản phẩm ở nội địa để xuất cảng mà còn cung cấp nguồn lao động rẻ mạt hoặc cưỡng bức cho nhiều nền kinh tế cũng đang bị Hoa Kỳ điều tra như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia.

Hình 1 – Ts. Nguyễn Đình Thắng chuẩn bị đến phiên điều trần, ngày 08/07/2026
“Chính phủ Việt Nam nổi bật là chính phủ duy nhất mà tôi biết đã đẩy công dân của mình vào vòng lao động cưỡng bức ở các quốc gia khác,” Ts. Thắng nói, kèm với một số dẫn chứng cụ thể.
Cuộc điều trần gồm 3 buổi, triệu tập trong 3 ngày 7 – 9 tháng 7. Tuỳ viên thương mại ở Toà Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Kỳ, Ông Đỗ Ngọc Hùng (hoặc Hưng), sẽ ra điều trần ngày 8 tháng 7.
Trước buổi điều trần BPSOS đã nộp 3 tài liệu chi tiết trước đó cho USTR:
- Báo cáo tổng hợp: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=GBKWF6J6MD
- Đường dây người Việt lao động bất hơp pháp ở Châu Âu: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=K2KXWMJ2RC
- Lính nghĩa vụ phải cung cấp lao động cưỡng bức cho các doan nghiệp quân đội: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=32TVDTGGYH
BPSOS cũng hỗ trợ trong việc biên soạn 4 tài liệu do các cá nhân hoặc tổ chức thân hữu nộp:
- Tự thuật của 2 nạn nhân buôn lao động: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=P8X89TYDW7
- Liên Minh Đa Tôn Giáo Phòng, Chống Buôn Người: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=G8RMQ26PGT
- Vận Động cho Đức Tin và Công Lý ở Việt Nam: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=RFCJWXG4XG
- Ông Lê Chí Thành: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=J4KH6M8X23
—–
Bản dịch tiếng Việt bài phát biểu của Ts. Thắng hôm nay:
Tôi là Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Chủ Tịch kiêm Giám Đốc Điều Hành của tổ chức Boat People SOS (BPSOS) – một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Hoa Kỳ, được thành lập năm 1980 và có 26 năm kinh nghiệm trong việc bài trừ lao động cưỡng bức. Tôi đề xuất Hoa Kỳ áp mức thuế từ 35% đến 50% phụ trội đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam – bao gồm hàng điện tử, dệt may, máy móc, giày dép, nông sản, cao su, gỗ và đồ nội thất gỗ – vì Việt Nam không chỉ sử dụng lao động cưỡng bức ở nội địa mà còn xuất khẩu lao động cưỡng bức sang nhiều nền kinh tế đang bị Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ (USTR) điều tra.
Việt Nam chỉ có duy nhất một công đoàn hoàn toàn dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng Sản Việt Nam; Chỉ thị số 24-CT/TW của Đảng này cấm thành lập các công đoàn độc lập, qua đó làm suy yếu khả năng thương lượng của người lao động về tiền lương và điều kiện làm việc, bao gồm cả tình trạng lao động cướng bức.
Tại trong nước, Việt Nam áp dụng chế độ cưỡng bức lao động đối với tù nhân cũng như những người thực hiện nghĩa vụ quân sự. Các người lính nghĩa vụ bị buộc phải làm việc tại các doanh nghiệp thương mại thuộc quyền sở hữu của quân đội trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, chế biến gỗ và trồng cao su, thay vì các công việc liên quan đến quốc phòng. Họ hoạt động xuyên biên giới, bao gồm việc khai thác gỗ tại Lào và phát triển đồn điền cao su ở Campuchia; các sản phẩm từ hoạt động này được cung cấp cho các ngành công nghiệp nội địa và chuỗi cung ứng xuất khẩu của Việt Nam. Những người lính này chỉ nhận được khoản thù lao khoảng 600–700 USD cho suốt thời gian 2 đến 2,5 năm thực hiện lao động cưỡng bức.
Trong 15 năm qua, thông qua chương trình xuất khẩu lao động do nhà nước quản lý, Việt Nam đã đưa 1,4 triệu lao động sang hơn 40 nền kinh tế—bao gồm Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Malaysia—nơi phần lớn họ làm việc trong các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và thủy sản. Nhiều người trong số đó rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất và bị cưỡng bức lao động; không ít người chọn ở lại bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng để tiếp tục làm việc nhằm trả nợ.
Kể từ năm 2008, chúng tôi đã giải cứu hơn 5.000 nạn nhân bị cưỡng bức lao động tại 32 quốc gia, nhưng không một ai trong số họ được chính phủ Việt Nam chính thức công nhận là nạn nhân của nạn buôn bán lao động sau khi hồi hương. Chưa có bất kỳ công ty nào trong số khoảng 50 công ty xuất khẩu lao động mà chúng tôi xác định là thủ phạm bị điều tra.
Ngoài ra, ước tính có khoảng 15.000 công dân Việt Nam đang bị mắc kẹt tại các trung tâm lừa đảo ở Campuchia, và con số này còn cao hơn tại Myanmar; nơi đó, họ bị ép buộc thực hiện các hành vi lừa đảo trực tuyến, chuyển hàng tỷ đô la mỗi năm từ người dân Mỹ vào túi các tổ chức tội phạm China ở Đông Nam Á. Chính phủ Việt Nam hầu như chưa có hành động thiết thực nào để giải quyết các vấn đề này.
Thay vào đó, chính quyền này bịt miệng và loại bỏ những ai bị coi là bứt mây động rừng. Năm 2019, họ đã kết án 15 năm tù một nhà báo nổi tiếng vì phơi bày các vi phạm với điều khoản về quyền lao động trong Hiệp Định Thương Mại Tự Do EU-Việt Nam. Năm 2024, một quan chức chính phủ cấp cao đã bị bắt giữ vì cảnh báo cộng đồng quốc tế về việc Việt Nam cấm các công đoàn độc lập. Cũng trong năm 2024, họ đã liệt tổ chức “Montagnards Stand for Justice” (Người Thượng Vì Công lý) đăng ký hoạt động ở Hoa Kỳ vào danh sách tổ chức khủng bố; tổ chức này đã hợp tác với chúng tôi trong nhiều năm qua để giải cứu các nạn nhân của nạn buôn lao động và các trung tâm lừa đảo, đồng thời họ cũng kết án người đồng sáng lập chính của tổ chức này mười năm tù.
Tháng Tư vừa qua, một tòa án ở Việt Nam đã kết án vắng mặt tôi – một công dân Hoa Kỳ – mức án mười một năm tù, ngay sau khi tôi khởi xướng một bức thư chung kêu gọi USTR điều tra vụ tịch thu tài sản và vốn đầu tư trị giá hàng tỷ đô la của công dân Hoa Kỳ tại Việt Nam mà không bồi thường. Ba tuần trước, chúng tôi đã khuyến khích các nguồn tin tại Việt Nam hỗ trợ cuộc điều tra của USTR đối với chính phủ nước này về các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nhiều người trong nước đã hưởng ứng tích cực bằng cách gửi bằng chứng lên cổng thông tin của USTR. Năm ngày sau, chính phủ Việt Nam đã liệt BPSOS vào danh sách tổ chức khủng bố.
Bên cạnh các biện pháp thuế quan, USTR cần thiết lập các kênh an toàn cho người tố giác, bảo vệ những người cung cấp thông tin, theo dõi sự phát triển của các công đoàn độc lập, đánh giá nỗ lực của Việt Nam trong việc bài trừ nạn buôn lao động và tuyển dụng cho các trung tâm lừa đảo, cũng như đánh giá tiến độ thực thi pháp trị. Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp này có thể giúp giảm thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam cũng như với các nền kinh tế nhập khẩu lao động cưỡng bức từ Việt Nam.
—–
Bản gốc lời phát biểu của TS Thắng:
Statement of Boat People SOS before the Section 301 Committee, Panel 10, July 8, 2026
Regarding: Investigations of Acts, Policies, and Practices of Various Economies Related to the Failure to Impose and Effectively Enforce a Prohibition on the Importation of Goods Produced with Forced Labor
***
I am Dr. Nguyen Dinh Thang, CEO and President of Boat People SOS (BPSOS), a U.S.-based nonprofit founded in 1980 with 26 years of experience combating forced labor. I recommend additional U.S. tariffs of 35–50% on major Vietnamese exports, including electronics, textiles, machinery, footwear, agricultural products, rubber, timber, and wooden furniture because Vietnam not only uses forced labor domestically but also exports forced labor to many economies that are under investigation by USTR.
Vietnam has only one labor union, which is under the full control of the Vietnamese Communist Party whose Directive No. 24 bans independent labor unions, thus weakening workers’ bargaining power on wages and work conditions, including forced labor.
Domestically, Vietnam imposes forced labor on prisoners and also on military conscripts. Conscripts are forced to work in military-owned commercial enterprises in manufacturing, furniture production, and rubber cultivation rather than defense-related work. They operate across borders, including timber harvesting in Laos and rubber plantations in Cambodia, with products feeding Vietnam’s domestic industries and export supply chains. The conscripts receive only about $600–$700 over 2 – 2.5 years of forced labor.
Over the past 15 years, Vietnam has exported, through its state-run labor export program, 1.4 million workers to over 40 economies including Japan, Taiwan, South Korea, and Malaysia, where the majority of them work in manufacturing, agriculture, and fisheries. Many of them are in debt bondage and subjected to forced labor. Many of them stay illegally after the term of their contract to repay their debts.
Since 2008, we have rescued more than 5,000 victims of forced labor across 32 countries, yet none was officially recognized by the Vietnamese government as labor trafficking victim upon repatriation. None of the roughly 50 labor export companies we have identified as perpetrators has been investigated. Additionally, there are an estimated 15,000 Vietnamese nationals trapped in scam centers in Cambodia, with even more in Myanmar, where they are coerced into committing online fraud that transfers billions of dollars annually from American main street to Chinese criminal syndicates in Southeast Asia. The Vietnamese government has taken little meaningful action to address these issues.
Instead, it silences and eliminates those whom it views as rocking the boat. In 2019, it sentenced to 15 years of prison a prominent journalist for exposing its violations of the labor right provision in the EU-Vietnam Free Trade Agreement. In 2024, a high-ranking government official was arrested for alerting the international community of Vietnam’s ban on independent labor unions. Also in 2024, it labeled as a terrorist organization the U.S.-based Montagnards Stand for Justice, which has worked with us over the years to rescue victims of labor trafficking and scam centers, and sentenced its primary co-founder to ten years in prison.
Last April, a Vietnamese court sentenced me, a U.S. citizen, in absentia to eleven years in prison shortly after I initiated a joint letter calling on USTR to investigate the expropriation of U.S. citizens’ property and investment in Vietnam worth billions of dollars without compensation. Three weeks ago, we encouraged sources in Vietnam to assist USTR’s investigation of its government for IP infringements. Many people in the country responded positively by submitting evidence to the USTR portal. Five days later, the Vietnamese government designated BPSOS a terrorist organization.
Besides tariffs, USTR should establish secure channels for whistleblowers, protect those who provide information, monitor the development of independent labor unions, evaluate Vietnam’s efforts to combat labor trafficking and scam-center recruitment, and assess progress on the rule of law. All these measures taken together may help reduce U.S. trade deficit with Vietnam and with those economies that import forced labor from Vietnam.