Việt Nam gian lận trong mậu dịch: Có thể bị Hoa Kỳ đánh thuế quan phụ trội 12.5%

4 tháng 6 năm 2026

Ts. Nguyễn Đình Thắng

Ngày 4 tháng 6, 2026

https://machsongmedia.org

Hôm nay, Văn Phòng Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ (US Trade Representative, USTR) công bố kết quả điều tra 60 quốc gia về lao động cưỡng bức. Việt Nam cùng 53 quốc gia bị xếp “Hạng 2” vì đã không có biện pháp thỏa đáng để chấm dứt vấn nạn; các quốc gia này bị đề nghị mức thuế quan 12.5% phụ trội lên các mặt hàng nhập vào Hoa Kỳ. Có 6 quốc gia bị xếp “Hạng 1” do có biện pháp thỏa đáng nhưng chưa thực hiện hiệu quả, có thể bị thuế quan phụ trội ở mức 10%.

Đây là kết quả đầu tiên của 3 cuộc điều tra mà Việt Nam phải đối mặt song song về các bất cập gây thâm thủng mậu dịch đến 200 tỉ Mỹ kim cho Hoa Kỳ trong năm 2025 và có chiều hướng tăng trong năm 2026, chỉ 3 tháng đầu năm mức thâm thủ đã trên 54 tỉ. Kết quả của cuộc điều tra thứ 2 có thể sẽ được công bố trong nội vài tuần tới. Trong thời gian qua, BPSOS đã góp thông tin cho 2 cuộc điều tra này. Cuộc điều tra thứ 3 bắt đầu tuần rồi. Xem ra, Việt Nam bị điều tra nghiêm ngặt nhất trong tất cả các quốc gia trên thế giới vì vi phạm nghiêm trọng nhất các quy tắc mậu dịch công bằng theo luật Hoa Kỳ.

Hình 1 – Trụ sở của Uỷ Ban Hoa Kỳ về Mậu Dịch Quốc Tế, nơi diễn ra các buổi điều trần của USTR

Cơ quan điều tra là Uỷ Ban Điều 301 (Section 301 Committee) của USTR. Điều 301 là điều khoản trong Luật Mậu Dịch Công Bằng năm 1974 (Fair Trade Act of 1974) của Hoa Kỳ, cho phép USTR rộng quyền điều tra và trừng phạt các quốc gia cố tình hành xử bất công trong mậu dịch, gây thiệt hại cho công dân, doanh nghiệp hoặc nền kinh tế nói chung của Hoa Kỳ. Chúng tôi đã tiếp xúc với vị Chủ Tịch của Uỷ Ban này và đang soạn một tài liệu đầy đủ và chi tiết về các vi phạm cực kỳ nghiêm trọng của Việt Nam mà có lẽ ít ai biết.

Thông tin thêm về 3 cuộc điều tra

Cuối tháng 4, Việt Nam bị đưa vào danh sách 60 quốc gia bị USTR điều tra về sử dụng lao động cưỡng bức, gây thiệt hại cho nền kinh tế Hoa Kỳ vì không thể cạnh tranh sản phẩm từ Việt Nam có giá thành cực rẻ. Các sản phẩm bị nêu gồm các mặt hàng nhôm, thép, gỗ, nông nghiệp, hải sản, thiết bị điện tử, v.v. Xem: https://ustr.gov/trade-topics/enforcement/section-301-investigations/section-301-failure-impose-and-effectively-enforce-prohibition-importation-goods-produced-forced

Đầu tháng 5, Việt Nam lại có tên trong số 16 quốc gia bị USTR điều tra về tình trạng thặng dư công suất mang tích cơ cấu. Vì công suất vượt xa nhu cầu nội địa, phần thặn dư đã được bán tháo vào Hoa Kỳ với giá rẻ, mà hậu quả là thâm thủng mậu dịch, công xưởng phá sản, người lao động mất việc. Xem: https://ustr.gov/trade-topics/enforcement/section-301-investigations/section-301-structural-excess-capacity-and-production-manufacturing-sectors   

Trong 2 cuộc điều tra này, USTR triệu tập tổng cộng 6 buổi điều trần. BPSOS theo dõi các buổi điều trần này và tôi đích thân có mặt tại một số buổi. Sau đó, BPSOS đã gửi thông tin đóng góp cho cả 2 cuộc điều tra.

Cuối tháng 5, USTR công bố cuộc điều tra thứ ba, nhắm riêng vào Việt Nam vì vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm truyền thông, phim ảnh, nghệ thuật, nhu liệu… của Hoa Kỳ. Việt Nam là quốc gia duy nhất bị USTR xếp hạng là “quốc gia ngoại quốc ưu tiên” (Priority Foreign Country) nghĩa là trong tình trạng nghiêm trọng phải điều tra đặc biệt. Các lĩnh vực điều ra bao gồm: tình trạng phổ biến về chiếm bản quyền trực tuyến, lạm phát hàng nhái, kiểm soát biên giới yếu kém, sử dụng nhu liệu chưa được cấp phép, và đánh cắp và phân phối tín hiệu cáp và vệ tinh. Xem: https://ustr.gov/about/policy-offices/press-office/press-releases/2026/may/ustr-announces-section-301-investigation-vietnams-acts-policies-and-practices-related-intellectual

Hình 2 – Việt Nam là quốc gia duy nhất bị xếp vào danh sách “Priority Foreign Country”

Tóm lược các buổi điều trần về lao động cưỡng bức

Hai buổi điều trần về lao động cưỡng bức diễn ra ngày 28 và 29 tháng 4. Phần lớn nhân chứng đại diện cho các doanh nghiệp, nghiệp đoàn, hoặc kỹ nghệ của Hoa Kỳ. Họ nói đến tình trạng lao động cưỡng bức, đặc biệt ở vùng Tân Cương của China. Việt Nam chỉ được nhắc đến như là quốc gia trung chuyển cho các mặt hàng của China để tránh thuế quan Hoa Kỳ.

Ngoài ra, có dăm ba tổ chức bảo vệ quyền lao động và có tổ chức Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản Foundation điều trần về tình trạng lao động cưỡng bức ở Tân Cương.

Tòa Đại Sứ Việt Nam cử đại diện, Ông Đỗ Ngọc Hùng (hoặc Hưng), Tư Vấn Thương Mại và Trưởng Phòng Mậu Dịch, ra điều trần ngày 29 tháng 4. Ông cho biết là Hoa Kỳ và Việt Nam đạt thoả thuận về một khung sườn về cấm và bài trừ lao động cưỡng bức ở Việt Nam cũng như chặn nhập khẩu các mặt hàng liên quan lao động cưỡng bức từ Tân Cương. Ông đưa con số cho thấy có sự giảm mạnh, giảm 98% từ năm 2022 đến năm 2025, các mặt hàng từ Tân Cương trung chuyển qua Việt Nam có yếu tố lao động cưỡng bức. Ông lập luận rằng lao động cưỡng bức mang tính xuyên quốc gia về bản chất, cho nên Hoa Kỳ hãy chọn biện pháp hợp tác quốc tế thay vì trừng phạt đơn phương một quốc gia như Việt Nam.

Tóm lược các buổi điều trần về thặng dư công suất

Bốn buổi điều trần về thặng dư công suất mang tích cơ cấu diễn ra từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 5. Tất cả nhân chứng đều là đại diện cho các công ty, doanh nghiệp, phòng thương mại. Ông Đỗ Ngọc Hùng, đại diện nhà nước Việt Nam, cũng tham gia điều trần.

China và Việt Nam bị quan tâm đặc biệt trong cuộc điều tra này. Việt Nam bị cáo buộc là đã bán tháo vào Hoa Kỳ các sản phẩm giày dép, xi-măng, gỗ, thép, đồ nhựa, ngư nghiệp, thiết bị năng lượng mặt trời. Việt Nam còn bị tố cáo là điểm trung chuyển cho các sản phẩm của China để né thuế quan, là giảm thuế cho công ty Việt Nam hoặc hợp doanh với công ty ngoại quốc (China, Đài Loan) trong các đặc khu kinh tế, cấm nghiệp đoàn độc lập, ngăn cản quyền thương lượng tập thể, v.v.

Phát biểu trong phiên điều trần cuối, Ông Đỗ Ngọc Hùng đề nghị Hoa Kỳ xem Việt Nam là thành phần của giải pháp thay vì là căn nguyên của vấn đề. Để chứng minh nhà nước Việt Nam có nền kinh tế thị trường, Ông cho biết các doanh nghiệp quốc doanh chỉ chiếm 0.2% trong tổng số các doanh nghiệp ở Việt Nam – nghĩa là gom cả các cửa hàng xén trong ngõ hẻm, quán cóc bên vỉa hè. Ông giải thích rằng, lượng hàng xuất khẩu từ Việt Nam tăng là nhờ vốn đầu tư từ ngoại quốc tăng và điều này cho thấy chính sách đúng đắn của nhà nước đã cải thiện cơ hội tiếp cận thị trường, luật lệ rõ ràng, tăng nguồn lao động năng lực cao, và cải thiện điều kiện kinh tế vĩ mô, v.v. Ông kêu gọi Hoa Kỳ đối thoại với Việt Nam để tiếp tục cải thiện quan hệ mậu dịch.

USTR sẽ công bố kết luận điều tra nội trong vài tuần tới. Theo tôi, kết quả sẽ còn tệ hại hơn vì phát biểu của Ông Đỗ Ngọc Hùng quá khiên cưỡng, không thuyết phục được các giới chức Hoa Kỳ tại buổi điều trần.

Quan điểm của BPSOS

BPSOS là tổ chức duy nhất nhấn mạnh tình trạng vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đã góp phần thế nào cho tình trạng thâm thủng mậu dịch của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

Về lao động cưỡng bức, có 2 yếu tố quan trọng cần giải quyết. Thứ nhất, ở Việt Nam không có công đoàn độc lập nên người lao động dễ bị bóc lột và quốc tế thiếu thông tin xác thực về lao động cưỡng bức. Thứ hai, nhà nước Việt Nam đã xuất khẩu lao động cưỡng bức ồ ạt sang các quốc gia khác – trong 27 năm, chương trình CAMSA của BPSOS đã giải cứu hoặc hỗ trợ giải cứu hơn 11 nghìn nạn nhân ở 32 quốc gia bị bóc lột lao động dưới chương trình xuất khẩu lao động của nhà nước. Và đấy mới chỉ là đỉnh chóp của tảng băng ngầm.

Còn thặng dư công suất chỉ có thể giải quyết khi chấm dứt các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Chẳng hạn, nhà nước cưỡng chế đất với tiền bồi thường bèo bọt cho dân đồng để lập đặc khu kinh tế để giúp các nhà máy khai thác bô-xít và sản xuất nhôm ở Tây Nguyên hoặc nhà máy sản xuất gang thép ở Hà Tĩnh tiết kiệm chi phí thuê đất – các nhà máy này không chỉ của Việt Nam mà còn của China và Đài Loan. Khi nạn nhân đòi công lý khi bị cưỡng chế đất hoặc do bị ảnh hưởng môi sinh thì bị đàn áp dã man như ở Giáo Xứ Cồn Dâu, Giáo Xứ Đông Yên, hoặc ở Đồng Tâm và nhiều nơi khác. Khi người dân biểu tình chống các đặc khu kinh tế thì bị bỏ tù hàng loạt và nhiều người đã phải ra đi tị nạn. Những người lên tiếng bênh vực họ cũng bị tù đày như Cô Phạm Đoan Trang, Bà Cấn Thị Thêu, Ông Phạm Chí Dũng.

Tình trạng ngày càng tệ đi. Nhà nước gia tăng kiểm soát quyền tự do báo chí và biểu đạt để không ai dám lên tiếng ở trong nước. Họ tấn công xuyên quốc gia để đe doạ những người vận động quốc tế cho nhân quyền và công lý cho người dân ở Việt Nam.

Nghiêm trọng nhất là tình trạng “chiếm đoạt nhà nước”ngày càng lộ liễu, khi các tập đoàn doanh nghiệp sử dụng bộ máy nhà nước làm công cụ để cạnh tranh bất công và bất chính, như VinGroup, SunGroup, Viettel, v.v.

Đấy là các yếu tố mang tính hệ thống, nếu không giải quyết tận căn thì không thể giải quyết tình trạng Hoa Kỳ bị thâm thủng mậu dịch triền miên và không giới hạn với Việt Nam.

Xem tài liệu đóng góp của BPSOS: https://comments.ustr.gov/s/commentdetails?rid=QGQX62BPMY

Thông tin liên quan:

Toàn văn bản tường trình điều tra của USTR về lao động cưỡng bức: https://ustr.gov/sites/default/files/files/Press/Releases/2026/USTR%20Report%20Sec%20301%20FL%20301%206-2-26%20FINAL%20for%20upload.pdf