USTR: Cần gấp thông tin về cưỡng bức lao động ở Việt Nam 

10 tháng 7 năm 2026

Hải Di Nguyễn 

Ngày 7-9/7/2026 vừa qua, Văn phòng Đại diện Mậu dịch Hoa Kỳ (United States Trade Representative, viết tắt USTR) đã có buổi điều trần về nạn cưỡng bức lao động và thiệt hại tới mậu dịch cho Hoa Kỳ. 

TS. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch BPSOS, là một trong những người phát biểu về cưỡng bức lao động ở Việt Nam: chương trình xuất khẩu lao động; chế độ cưỡng bức lao động với tù nhân và những người thực hiện nghĩa vụ quân sự; các trung tâm lừa đảo ở Đông Nam Á, v.v. Đại diện chính quyền Việt Nam hôm 9/7 là ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Từ nay tới ngày 15/7 là cơ hội để người Việt cung cấp thêm thông tin và bằng chứng, và chỉ ra những bất cập trong báo cáo của nhà nước Việt Nam. 

USTR đã nói gì về Việt Nam? 

Bản báo cáo của USTR nói “Theo Hội đồng Quốc gia các Tổ chức Dệt May (National Council of Textile Organizations), một lượng lớn hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ có khả năng được sản xuất từ bông thu hoạch bằng lao động cưỡng bức. Tổ chức này nhận định, các thành phần dệt may có chi phí cực thấp, làm từ lao động cưỡng bức, nhiều khả năng được dùng để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, trong đó Bangladesh, Campuchia, Indonesia, và Việt Nam là những quốc gia chính sản xuất các mặt hàng này.” 

Ngoài ra, Việt Nam bị cáo buộc làm trạm trung chuyển cho China: nhiều sản phẩm của China, có khả năng được sản xuất bằng lao động cưỡng bức và bị chặn vào Hoa Kỳ, vẫn được tuồn vào thị trường Hoa Kỳ bằng cách đi vòng qua những nước khác như Việt Nam.   

Chúng tôi đã cung cấp thông tin gì? 

Bản báo cáo BPSOS gửi cho USTR nói về 3 vấn đề chính trong bài phát biểu của TS. Nguyễn Đình Thắng. 

Về tình trạng cưỡng bức lao động trong nhà tù, BPSOS nêu ra 3 nhân chứng: ông Nguyễn Bắc Truyển (trại Xuân Lộc, trại An Điềm, và trại Gia Trung), ông Dương Văn Quân (cũng trại Gia Trung), và ông Lê Chí Thành (Trại giam Thủ Đức). Ông Nguyễn Bắc Truyển từng là tù nhân lương tâm và hiện tỵ nạn tại Đức; ông Dương Văn Quân trốn sang Thái Lan và từng bị bắt cóc về Việt Nam, bắt giam, và đã sang tỵ nạn tại Hoa Kỳ; ông Lê Chí Thành, từng là công an nhưng nay bất đồng chính kiến, bị Việt Nam hủy hộ chiếu và hiện đang bị giam tại Thái Lan. 

Đặc biệt, BPSOS nhắc tới một vấn đề cực kỳ “nhạy cảm” là chương trình buôn người và cưỡng bức lao động của nhà nước, ẩn sau cái tên đẹp đẽ là “xuất khẩu lao động”. Bóc lột công nhân để dìm giá và cạnh tranh thương mại, không giải cứu, không hỗ trợ nạn nhân hồi hương, không giải quyết khiếu nại, không trừng phạt kẻ buôn người. Ngay cả khi nạn nhân níu áo cầu cứu sứ quán, cũng phải bỏ tiền túi mua vé hồi hương với giá “cắt cổ”. Không có tiền, khỏi về. 

Liên minh Bài trừ Nô lệ Mới ở Á châu (The Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia, tức CAMSA), do BPSOS thành lập, gửi 2 bản báo cáo. Một là về những đường dây buôn lậu lao động chui người Việt, từ các nước Đông Âu (đặc biệt Hungary, Slovakia, Serbia, Nga) vào Tây Âu (Vương quốc Anh, Pháp, Bỉ, và Đức)—những người đó được khuyên là xin tỵ nạn hoặc nhận mình là nạn nhân buôn người khi bị bắt, để không bị trục xuất. Nhà nước Việt Nam hoàn toàn không điều tra và xử lý những đường dây này.  

Trên Reddit, người Việt bình luận về lao động rẻ mạt trong quân đội Việt Nam, viết bằng tiếng Anh có lẽ để tránh tai mắt chính quyền.

Bản báo cáo thứ hai của CAMSA nói về cưỡng bức lao động quân đội; các hoạt động thu hoạch cao su thô và mủ cao su từ Campuchia bằng nguồn lao động bị cưỡng bức hoặc trả lương rẻ mạt trong quân đội Việt Nam; và đặc biệt, về đường dây của Tổng Công ty Hợp Tác Kinh tế buôn lậu gỗ quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng từ Lào, từ đó biến thành đồ nội thất và vật liệu xây dựng để xuất khẩu sang châu Âu.  

Tất cả những hoạt động này vừa là vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, vừa là cạnh tranh thương mại không công bằng. 

Việt Nam nói gì? 

Chính quyền Việt Nam gửi một bản báo cáo dài 108 trang trả lời USTR. 

Chẳng hạn, họ viết “Báo cáo không thiết lập đủ mối liên hệ về mặt bằng chứng giữa việc Việt Nam nhập khẩu bông và hành vi được cho là lẩn tránh lệnh của Hoa Kỳ cấm nhập khẩu hàng hóa sử dụng lao động cưỡng bức. Chỉ việc Việt Nam nhập khẩu bông, không phân tích gì hơn, không chứng minh là hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có chứa nguyên liệu từ lao động cưỡng bức, hay cho thấy Việt Nam có khung pháp lý và thực phi pháp luật thiếu hiệu quả.” 

Cần thêm thông tin gì? 

Trước ngày 15/7, chúng tôi sẽ gửi thêm thông tin cho USTR để phản bác Việt Nam, đặc biệt về lao động cưỡng bức trong hệ thống nhà tù là lĩnh vực mà chúng tôi có ít thông tin. 

Nói chung chúng tôi sẵn sàng đón nhận thêm bằng chứng về tất cả những vấn đề trên, bất kỳ hình thức cưỡng bức lao động nào khác ở Việt Nam (gây hại tới mậu dịch của Hoa Kỳ), và bất kỳ điều dối trá, lấp liếm nào trong báo cáo hoặc bài phát biểu của nhà nước Việt Nam. 

Làm sao để gửi thông tin? 

Quý vị có thể gửi thông tin trực tiếp cho USTR. Chúng tôi đang theo dõi hệ thống của USTR và sẽ cập nhật đường link. 

Ngoài ra có thể gửi cho chúng tôi qua địa chỉ [email protected]. Mọi nguồn thông tin sẽ được bảo mật.