Ủy ban CEDAW nói gì về quyền phụ nữ ở Việt Nam?

26 tháng 2 năm 2026

Percy Nguyễn và Hải Di Nguyễn phát biểu với Ủy ban CEDAW ngày 19/2/2024 tại buổi họp ở Geneva, Thụy Sỹ chuẩn bị cho phiên rà soát Việt Nam.

Hải Di Nguyễn

Ngày 3/2/2026, Ủy ban Xóa bỏ Phân biệt Đối xử với Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (Committee on the Elimination of Discrimination against Women, viết tắt là CEDAW) đã rà soát nhà nước Việt Nam về việc thực thi công ước đã ký về quyền phụ nữ.

Ủy ban đã công bố các nhận xét đúc kết vào ngày 23/2 vừa qua, trong đó nêu 3 vấn đề được BPSOS đặt ra: các phụ nữ dân tộc thiểu số bị ngược đãi vì lý do tôn giáo, các phụ nữ bị buôn người trong chương trình xuất khẩu lao động của nhà nước, và các nữ tù nhân lương tâm.  

Có gì đáng chú ý?

Thiếu dữ liệu

Một trong những ý được lặp đi lặp lại ở nhiều phiên rà soát tôi đã theo dõi là, thiếu dữ liệu. Việt Nam nói đã cải thiện vấn đề bất bình đẳng giới, nhưng dữ liệu đâu? Đặc biệt những con số như đã khởi tố và trừng phạt bao nhiêu kẻ buôn người (bao gồm nhân viên nhà nước), kẻ bạo hành phụ nữ, hoặc những cán bộ sách nhiễu hoặc phạt tiền thay vì hỗ trợ nạn nhân buôn người? Hoặc các dữ liệu khác, tách riêng vùng miền, nơi sống, sắc tộc, tôn giáo, v.v.?

Vấn đề quyền phụ nữ bản địa và sắc tộc thiểu số

Nhận xét đúc kết của Ủy ban CEDAW nói tới chênh lệch giữa thành phố và nông thôn, giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số, và nhiều lần nhắc tới các chính sách đàn áp của nhà nước Việt Nam với các phụ nữ bản địa và sắc tộc thiểu số.

Ngoài những vấn đề như chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch điều kiện học hành, khác biệt trong điều kiện chăm sóc sức khỏe, nạn tảo hôn, v.v. Ủy ban cũng nhắc tới tình trạng phụ nữ H’mông bị từ chối hoặc tước bỏ căn cước, không thể đăng ký khai sinh cho con cái, trở thành “vô quốc tịch” trên chính nước mình chỉ vì niềm tin tôn giáo. Đây là chủ đề BPSOS đã nhấn mạnh trong các bản báo cáo và phiên họp với Ủy ban CEDAW trước phiên rà soát, và cũng nhiều lần nêu ra tại các sự kiện khác của LHQ.

Nạn buôn người

Ủy ban CEDAW đưa ra hai vấn đề đáng chú ý.

Thứ nhất, họ nói chính quyền Việt Nam thiếu dữ liệu và thiếu minh bạch trong việc điều tra quan chức tham nhũng và đồng lõa với các vụ buôn người; đôi khi lại trừng phạt chính nạn nhân buôn người và gái mại dâm bị bóc lột.

Thứ hai, họ nhắc tới “tình trạng bóc lột lan rộng liên quan tới các công ty xuất khẩu lao động và chương trình tuyển dụng, cũng như tình trạng khó tiếp cận các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ, và khắc phục hậu quả cho các nạn nhân bị buôn bán lao động ra nước ngoài.” Trong nhiều năm qua, BPSOS đã lên tiếng và vận động chống tình trạng buôn người ở Việt Nam qua các chương trình xuất khẩu lao động, và thực tế các nạn nhân không được chính quyền Việt Nam công nhận là nạn nhân buôn người, không được xử lý khiếu nại.

Một ví dụ là chị Huỳnh Thị Gấm, sang Ả Rập Xê Út theo chương trình xuất khẩu lao động năm 2019. Mỗi khi rời đi vì bị đánh đập hành hạ, lại bị công ty đẩy sang chủ khác và tiếp tục bị hành hạ đánh đập. Mỗi khi cầu cứu sứ quán hoặc Bộ Lao động lại bị trả về công ty môi giới. Trong hai năm ở Ả Rập Xê Út, chị Huỳnh Thị Gấm bị đẩy từ chủ này sang chủ khác, qua 6 chủ khác nhau—bị đày đọa, đánh đập, bỏ đói, quỵt tiền, thậm chí tấn công tình dục—cuối cùng chỉ về Việt Nam cuối tháng 10/2021 nhờ sự can thiệp của Tổ chức Di trú Quốc tế và chương trình CAMSA của BPSOS. Cho tới nay, một loạt các đơn khiếu nại của chị vẫn không được giải quyết.

Các nhà hoạt động

Ủy ban CEDAW cáo buộc nhà nước Việt Nam “giới hạn quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp” của các phụ nữ bảo vệ nhân quyền, đặc biệt những người tranh đấu về môi trường, quyền đất đai, và quyền người bản địa và sắc tộc thiểu số.

Tại phiên họp với Ủy ban CEDAW ngày 19/2/2024, tôi đã nêu trường hợp nhà hoạt động quyền đất đai và tù nhân lương tâm Cấn Thị Thêu, cũng như những khó khăn vất vả của những phụ nữ trong gia đình họ khi ba người trong gia đình đều đang bị cầm tù.

Các vấn đề khác về quyền phụ nữ

Ngoài ra, Ủy ban CEDAW cũng nhắc tới thái độ trọng nam khinh nữ và chuộng con trai trong xã hội Việt Nam; lối nghĩ cổ hủ về vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội; chênh lệch nam nữ trong các ngành khoa học và công nghệ; vấn nạn bạo hành phụ nữ; việc gia tăng phát tán hình ảnh nude và deepfake của phụ nữ; thực tế phụ nữ nông thôn, phụ nữ bản địa và sắc tộc thiểu số bị biến đổi khí hậu tác động nhiều hơn; việc luật Việt Nam chưa cho phép hôn nhân đồng giới và vẫn còn phân biệt người đồng tính và chuyển giới; v.v.

Nói tóm lại, vấn đề quyền phụ nữ ở Việt Nam đã có tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều thứ cần giải quyết.